Triển vọng xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp trong năm 2018

Trong năm 2018, xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp được đánh giá sẽ gặp nhiều thuận lợi, bởi một số yếu tố hỗ trợ như:

Xuất khẩu hàng nông sản tiếp tục được hỗ trợ bởi yếu tố giá trong bối cảnh nhu cầu tiêu thụ trên thế giới vẫn ở mức cao nhưng do ảnh hưởng bởi thời tiết bất lợi cộng với diện tích canh tác bị thu hẹp nên sản lượng của một số mặt hàng như hồ tiêu, chè, gạo ... giảm. Theo báo cáo tháng 11/2017, Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) đã hạ dự báo sản lượng gạo toàn cầu giai đoạn 2017 - 2018 xuống còn 481,2 triệu tấn, giảm 5,4 triệu tấn so với giai đoạn 2016 - 2017. 

FTA Việt Nam - EU (EVFTA) đã chính thức kết thúc đàm phán năm 2015 và hiện đang trong giai đoạn về đích, dự kiến được ký kết và triển khai trong năm 2018. Đây được coi là cơ hội lớn cho xuất khẩu hàng nông, thủy sản của Việt Nam vào EU. Bởi khi chính thức được triển khai, EVFTA sẽ xóa bỏ gần như toàn bộ thuế quan trong thương mại hàng hóa giữa hai nền kinh tế, lên tới hơn 99% số dòng thuế. Với rất ít số dòng thuế còn lại, hai bên dành cho nhau hạn ngạch thuế quan hoặc cắt giảm thuế quan một phần. Đây có thể được coi là mức cam kết cao nhất mà Việt Nam đạt được trong các FTA đã được ký kết từ trước tới nay.

* Để tận dụng cơ hội

Với những thuận lợi nêu trên, để tận dụng cơ hội doanh nghiệp phải loại bỏ được sự xâm nhập của dịch hại, đáp ứng hiệu quả các quy định an toàn vệ sinh thực phẩm của EU. Ví dụ như đối với mặt hàng rau quả, vùng sản xuất rau quả của doanh nghiệp phải đạt tiêu chuẩn VietGAP; doanh nghiệp nên trồng trong nhà kính, nhà lưới và phải triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc nguyên liệu xuất khẩu.

Đối với mặt hàng rau quả, tiềm năng của thị trường thế giới cũng như sự thay đổi của chuỗi giá trị rau quả Việt Nam rất hứa hẹn. Hiện hệ thống rau quả ngày càng chuyên nghiệp, có truy xuất nguồn gốc nhãn mác phục vụ xuất khẩu và tiêu thụ nội địa tăng trưởng rất nhanh. Đây là tín hiệu đáng mừng, là bước tiến quan trọng để ngành rau quả chuyển sang hướng chuyên nghiệp hóa, bảo đảm nguồn cung cho thị trường xuất khẩu. Dự báo, xuất khẩu rau quả trong năm 2018 sẽ tăng trưởng khoảng 40% so với năm 2017.

Đối với ngành gạo, xuất khẩu gạo của Việt Nam trong thời gian tới được dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởng khả quan nhờ nhu cầu tăng từ thị trường Trung Quốc, Phi-lip-pin, Hàn Quốc, I-rắc… Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu thụ gạo trên thế giới tiếp tục được dự báo khả quan trong năm 2018. Theo dự báo của Tổ chức Nông lương Liên Hiệp quốc (FAO), các nước châu Á được dự báo sẽ nhập khẩu 22 triệu tấn gạo trong năm 2018, cao hơn so với mức 21,8 triệu tấn năm 2017. FAO dự báo nhập khẩu gạo tăng tại các nước In-đô-nê-xia, Phi-lip-pin và Ả rập xê út. Nhập khẩu gạo của In-đô-nê-xia và Phi-lip-pin được dự báo tăng do chính phủ các nước này phải tăng cường các kho dự trữ gạo phục vụ cho các chính sách phân phối công. Mặc dù vậy, mức nhập khẩu gạo của In-đô-nê-xia năm 2018 dự báo đạt 750.000 tấn, vẫn là mức tương đối hạn chế do chính phủ nước này vẫn không giảm tham vọng tự cung tự cấp gạo và các động thái chính sách theo hướng tăng hỗ trợ thực phẩm theo tem phiếu.

Đối với hàng thủy sản, xuất khẩu mặt hàng này tiếp tục tích cực trong năm 2018 nhờ tận dụng tốt lợi thế FTA tại một số thị trường chủ lực. Dự báo, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam năm 2018 sẽ vượt 9 tỷ USD với lượng xuất khẩu đạt 2,17 triệu tấn, tăng 6,1% về lượng và 7,75% về kim ngạch so với năm 2017. Tuy nhiên, các rào cản về chất lượng, truy xuất nguồn gốc của sản phẩm ở những thị trường lớn, các FTA song phương và đa phương tiếp tục sẽ là những yếu tố chính làm thay đổi cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong năm 2018.

* Tuy đã có nhiều nỗ lực và thành công để phát triển, mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản, nhưng thực tế hoạt động xuất khẩu hàng nông sản chủ lực của Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn như:

Các doanh nghiệp, cơ sở chế biến có quy mô nhỏ, phân tán; công nghệ sản xuất lạc hậu, chủ yếu là sơ chế đơn giản, chỉ có một số rất ít sử dụng dây chuyền chế biến hiện đại đạt từ 25%-30%, trong khi trung bình các nước ASEAN đạt 50%; năng lực quản lý, kinh doanh còn hạn chế.

Các mặt hàng nông sản chủ lực có sức cạnh tranh kém; chưa có thương hiệu trên thị trường quốc tế; chủ yếu xuất khẩu dưới dạng thô nên giá trị gia tăng không nhiều. Cùng với đó, những rào cản về kỹ thuật là khó khăn lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam khi hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt tiêu chuẩn quốc tế khoảng 5%; thị trường xuất khẩu nông sản chủ yếu tập trung vào các nước trong khu vực và luôn chịu sự cạnh tranh bởi các nước Thái Lan, Ấn Độ, In-đô-nê-xia… cũng có những mặt hàng tương tự.

Ngoài ra, trong thời gian tới các doanh nghiệp xuất khẩu nông, thủy sản cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn liên quan đến hàng rào kỹ thuật, vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm do các thị trường đặt ra. Tiêu biểu như ở thị trường Trung Quốc, trong thời gian gần đây, thị trường này yêu cầu gạo nhập khẩu phải đảm bảo an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc rõ ràng. Với sự thay đổi này, nếu ngành gạo Việt Nam và các doanh nghiệp không kịp thích ứng thì sẽ khó đẩy mạnh xuất khẩu trong thời gian tới.

Riêng đối với rau quả - mặt hàng có tiềm năng nhất để mở rộng quy mô xuất khẩu của nhóm nông, thủy sản, cũng đang đối mặt với những trở ngại không nhỏ. Trong đó, hạn chế lớn nhất của sản xuất rau quả hiện nay là quy mô nhỏ lẻ, manh mún nên khó cho việc đầu tư, quản lý chất lượng, tiêu thụ sản phẩm. Năng suất rau quả dù có cải thiện nhưng vẫn còn thấp hơn bình quân chung của thế giới và khu vực. Cơ sở hạ tầng ở các vùng sản xuất rau quả tập trung chưa được quan tâm đầu tư, chưa đáp ứng tốc độ phát triển diện tích.

Việc tổ chức liên kết trong sản xuất và tiêu thụ còn lỏng lẻo, phía doanh nghiệp chưa chú trọng xây dựng vùng nguyên liệu mà chủ yếu thu gom từ thương lái nên khó khăn trong truy xuất nguồn gốc, chất lượng không đồng đều, rủi ro cao. Tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch còn cao, công nghệ bảo quản, xử lý sau thu hoạch chậm phát triển.

Bên cạnh đó, hệ thống thông tin thị trường còn hạn chế, chưa có những nghiên cứu sâu, toàn diện về cung, cầu ngành hàng rau quả, nhất là đối với những thị trường lớn. Bên cạnh đó, việc xuất khẩu quả tươi chiếm quá lớn (khoảng 80%); ngoài ra, còn cạnh tranh thương mại giữa các nước sản xuất, rào cản kỹ thuật từ các nước nhập khẩu và những yêu cầu về an toàn thực phẩm…

Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ cũng chỉ ra 4 điểm hạn chế cơ bản của nền sản xuất nông nghiệp, đó là: Năng suất còn thấp, chất lượng chưa đồng đều; công nghệ sinh học, đặc biệt là giống còn nhiều vấn đề; bảo quản, chế biến, thất thoát sau quy hoạch còn rất cao, trên 30% và bất cập về hạ tầng, logistics cũng làm cho hàng hóa xuất khẩu mất nhiều lợi thế cạnh tranh tranh.

Trước diễn biến này, Thủ tướng đề nghị tập trung làm một số việc, đó là làm tốt quy hoạch sản xuất gắn với thị trường, hoàn thiện quy hoạch sản xuất nông nghiệp dài hạn gắn với yêu cầu thị trường trong điều kiện biến đổi khí hậu, cùng với đó là quy hoạch hạ tầng để thuận lợi hơn, phù hợp hơn, nhằm giảm chi phí vận chuyển và phát triển các dịch vụ logistics.

Bên cạnh đó, hoàn thiện cơ chế chính sách đầu tư, bao gồm cả vùng nguyên liệu vào nhà máy chế biến, khuyến khích phát triển liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị để giảm bớt tầng lớp trung gian, đặc biệt là chính sách coi trọng doanh nghiệp, ưu tiên phát triển kinh tế tập thể, trong đó có tổ hợp tác và hợp tác xã. Ngoài ra, cần tiếp tục đổi mới tư duy nhận thức trong việc phát triển thị trường và sản xuất hàng hóa, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào bảo quản, chế biến, xúc tiến thương mại, tận dụng thành tựu của cách mạng công nghiệp 4.0 để có sự bứt phá, bắt kịp trình độ khu vực của thế giới, nâng cao sức cạnh tranh, chất lượng và hiệu quả của sản phẩm./.

 

Nguồn: Bản tin thị trường sản phẩm nông nghiệp số 16 năm 2017
Hải Nhu

CÁC TIN KHÁC:

Đường nông thôn
Gặt đập liên hợp
Nước sạch cho vùng nông thôn
Cầu treo giao thông nông thôn
Đường đồng ruộng nông thôn
Điện nông thôn
Trường học đạt chuẩn
Trạm y tế xã